Lan Vũ Nữ Hoa có hình dáng Đặc Biệt dùng làm Thuốc và Ma Túy
Lan vũ nữ
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu với các bạn đọc sự tiếp tay của Dược sĩ Trần Việt Hưng với các bài biên khảo rất có giá trị về các dược liệu lấy từ hoa lan và những bài biên khảo công phu về các món ăn của chúng ta. Xin các bạn hãy đón coi.
Oncidium Dancing lady hay tên Việt: Lan Vũ nữ là một loài lan mọc tự nhiên tại Nam Mỹ. Oncidium, nhất là các loài lai tạo, được trồng rất phổ biến tại các nhà vườn Hoa Kỳ và được bán khá rộng rãi, hầu như quanh năm tại các chợ, siêu thị.
Chi Oncidium, họ thực vật Orchdacea gồm khoảng 600 loài lan kích thước khác nhau: từ những loài nhỏ bé có lá mọc chồng lên nhau, tán lá giống như cây quạt, hoa màu sắc rực rỡ đến những cây có giả hành to lớn, cành hoa dài.

Oncidium, từ tiếng Hy lạp, onkos, có nghĩa là phồng lên hay có mụn nhỏ, có lẽ dựa vào vết nổi nơi đỉnh của môi hoa. Tên ‘thường’ của Oncidium trong Anh ngữ là Dancing Ladies, Dancing Dolls, Butterfly Orchids là do nhóm hoa khá nhiều mọc trên cần trông giống như những vũ công đang nhảy múa hay giống như một đàn bướm bay chập chờn khi cần hoa lay động.
Mô tả lan Vũ Nữ
Nhà nghiên cứu lan Bùi Xuân Đáng đã ‘tóm lược’ về Oncidium như sau:
“Oncidium hay Dancing Lady hay lan Vũ nữ là một loài lan gồm khoảng chừng 600 giống, mọc tại các miền thuộc Nam Mỹ châu. Loại lan này có những củ bẹ (pseudobulbs) to hoặc nhỏ phía trên có một lá (unifoliate) hoặc hai lá (bifoliate). Tùy theo giống có lá dầy và cứng như tai lừa (mule ear) hoặc dài và mềm như nhiều lan khác. Hoa có hình dạng gần giống như nhau nhưng khác ở màu sắc và một vài đặc điểm. Dò hoa có thứ dài gần 2 m như Oncidium falcipetatum, O. carthagenense O. divaricatum và cũng có những loài cho dò hoa ngắn như O. cherophorum. Mỗi dò, tùy loài, mang từ 30 đến 100 hoa. Có nhiều giống cho hoa to đến 4-5 cm. Oncidium thường nở hoa vào mùa xuân hay hạ, nhưng cũng có cây cho hoa vào mùa thu” (hoalanvietnam.org)

Norris Williams và Mark Whitten tại Florida Museum of Natural History (Gainesville) cũng có những nghiên cứu nhận định tương tự: chi Oncidium được định danh lại là Oncidium Alliance (liên nhóm), một nhóm lan có 700 loài ‘nguyên giống’ cộng thêm trên 1000 loài lai tạo. Oncidium Alliance hiện tạm chia thành những chi phụ: Oncidium, Miltonia, Miltionopsis, Odontoglossum, ossioglossum, Zelenkoa, Cirtochilum và Tolumnia.
Chi ‘chính thống’ Oncidium chỉ còn khoảng 150 loài. Một đặc điểm quan trọng là có thể lai giống giữa những cây tuy thuộc chi phụ nhưng chỉ cần thuộc liên nhóm = Alliance. Sự lai tạo, qua nhiều thế hệ đã tạo rất nhiều ‘loài mới’, đa dạng hơn. (Một số chi phụ trong Alliance hiện nay đang được các nhà thực vật tách riêng đễ tạo thành những chi riêng biệt như Cyrtochilum (120 loài), Psychopsis (5 loài), Tolumnia (35 loài), Zelenkoa (1 loài duy nhất, được tách riêng từ 2001).
Phân bố lan Vũ Nữ
– Lan Vữ nữ ‘nhện’
– Vũ nữ ‘mật ngọt’ (O. Sweet Sugar: lai tạo giữa Aloha Iwagana X varicosum)
– Vũ nữ ‘tai lừa’ (còn gọi là ‘tai thỏ’= O. harrisonianum)
– Vũ nữ ‘mèo hoang’ = Onci dium ‘Wild cat’ (chính xác hơn: Colnamara Wildcat, lai tạo giữa Colm.Rustic Bridge X Odcdm. Crowborough).
– Vũ nữ ‘Bạch tiên nữ’ = O. Beallara Tropic.
– Vũ nữ ‘Hoàng Y Mỹ nương’ = O. Gower. Ramsey (Một cây lai tạo giữa Goldiana X Guinea Gold)
– Lan ‘Em bé Sharry’ ‘Hương thơm ngọt ngào’ (lai tạo giữa Jamie Sutton X Honolulu).
Một loài lan khác được gọi tại Việt Nam là Vũ nữ Hoàng hậu, chinh xác hơn nên gọi là Lan Hoàng hậu = Grammatophyllum scriptum vì không liên hệ gì đến Oncidium Alliance.
Lan Vũ Nữ có dược tính
Đa số những nghiên cứu khoa học về Lan Vũ Nữ (Oncidium) chú trọng vào vấn đề lai tạo và nuôi lan, cấy lan trên các môi trường tổng hợp để nhân giống và sản xuất hoa cho thị trường trang trí trong nhà.
Những bài viết về việc dùng lan làm thuốc chỉ ‘ghi nhận’ rất đơn giản về Oncidium:
Acta Pharmacologica Sinica (24-2003) chỉ ghi: Oncidium pusillum: Người Kofans dùng nước sắc cây để trị vết thương ngoài da.
Hợp chất loại glycosides: scutellarein 6-methyl ether 7-rutinoside đã được phân lập từ lá Oncidium excavatum và O. Sphacelatum. Trong O. excavatum còn có pectolinarigenin 7- glucoside (Phytochemistry Số 10-2013)
Các cây lan Oncidium: Oncidium microchilum, O. isthmi, đã được nghiên cứu về khả năng diệt tế bào ung thư. Từ Oncidium đã ly trích được 15 hợp chất loại stilbenoids, gồm cả những phenanthraquinone và dihydrostilbenes. Đa số có khả năng ngăn chặn sự bội sinh của các tế bào ung thư dòng NCI-H460 và M14, do khả năng gây ‘tiến trình tế bào tự hủy’ (apoptosis), dựa trên nghiên cứu từ sự kích hoạt caspase 3/7 và phóng thích LDH (Planta Medica Số 78-2012).
Lan vũ nữ Oncidium flexuoxum
Cây lan cao 20-90 cm, lá hình kiếm, màu xanh nhạt; lá mỏng, 2-3 lá mọc từ giả hành hình trứng, lá mọc lệch thành hình quạt, gốc có rễ khí sinh màu trắng, Cây càng mọc khỏe càng có nhiều rễ trắng. Cần hoa dài mọc từ gốc vẩy giả, hoa rất nhiều, mọc trên nhánh của cần, màu đỏ, hung nâu, hồng vàng. Cánh môi có những đốm đỏ nhỏ. Hoa khá bền, có thể giữ nguyên dạng trên 1 tháng. O. flexoxum có thể trồng trong chậu hay trồng ghép cho bám vào một thân gỗ.
Lá của Oncidium flexuoxum được dùng trong dân gian tại Brazil để trị bệnh ngoài da, đắp vết tthương, vết đứt và trị phỏng. Nghiên cứu phối hợp giữa ĐH Herminio Ometto, ĐH Universidade Estadual de Campinas tại Sao Paolo Brazil về khả năng làm lành vết thương của cây đã ghi nhận:
– Dịch chiết lá bằng ethanol/nước (7/3) chứa các hoạt chất loại phenolic như flavonoids, tannins và triterpenes (không xác định được alkaloids và saponins).
– Thử nghiệm trên chuột Winstar, bị gây vết thương ngoài da, cho đắp dịch chiết (nồng độ 60mg/mL) trong 10 ngày liên tục; dùng nước muối 0.9% làm đối chứng cho thấy dịch chiết từ lá O. flexuoxum có khả năng làm vết thương mau lành, tạo những thay đổi ‘tích cực’ trong các thông số thử nghiệm như giúp tăng số lượng tế bào fibroblast, tạo thêm những mô và mạch máu mới nơi vết thương, đồng thời tăng bề dày của mô liên kết (Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine Vol.2011 (2011)
Một thử nghiệm khác cũng tại ĐH Herminio Ometto, dùng dịch chiết ethanol/nước từ lá O. flexuoxum ghi nhận hoạt tinh gây tổn hại DNA, ty thể của tế bào đưa đến sự kiện tế bào bị diệt nơi chuột cho dùng các hợp chất tạo ung thư (Medicinal Chemistry Số 3-2013)
Lan vũ nữ Oncidium sphacelatum
Oncidium sphacelatum là một cây ‘phụ sinh’, tuy sống bám vào một cây khác nhưng không ‘ký sinh’ (không hút thực phẩm từ cây chúng sống bám). Cây lớn đến 60 cm, có nhiều giả hành thuôn dài và dẹp, to đến 5 cm, tụ lại với nhau, mỗi giả hành có nhiều lá. Bộ rễ rất phát triển, bám vào giá thể nơi cây mọc. Trổ hoa vào mùa xuân, cần hoa dài đến 1,5 m mang rất nhiều hoa vàng có những vệt hay đốm màu nâu-đỏ xậm.
Lá và giả hành được giã nát, dùng đắp vết thương tại Nam Mỹ.
Lan vũ nữ Oncidium ciboletta
Oncidium ciboletta, còn gọi là orquidea, rattail orchid, Onion leaf oncidium. Ciboletta = củ hành ta. Cây có thêm đặc điểm là thân dạng tereta (hình ống do những lá biến đổi hình dáng, để trở nên ốm và tròn như bút chì, sự thay đổi này giúp tránh sự bốc hơi).
Cây phân bố tại Bắc Mexico, nơi những vùng có cao độ từ 150-1500m. Cây phát triển khá tốt tại Arizona (Hoa Kỳ).
Lan vũ nữ Oncidium ciboletta có khả năng gây ảo giác
Trong một luận án tại ĐH Colorado (1981), Terry R Guess ghi nhận thành phần của Oncidium ciboletta: ‘Dịch chiết lá bằng chloroforme chứa những hợp chất phenenthrenes và 9,10-dihydro phenanthrene, trong đó công thức phức tạp của 4 chất chuyển hóa loại methoxy đã dược xác định. Các hợp chất phenathrene này hầu như không có hoạt tính gây ảo giác. Trong cây cũng được cho là có một alkaloid, nhưng hiện chưa được xác nhận. T Guess cho rằng ‘cấu trúc không gian’ của vài phenanthrene trong cây ‘có vẻ’ tương tự như tetrahydrocannabiol (trong cần sa), nên rất có thể có khả năng tạo ảo giác.
Lá giã nát cũng được đắp để trị các vết thương ngoài da.
Tài liệu sử dụng:
– Complete Guide to Orchids (Ortho Books).
– Oncidium, Lan Vũ nữ (Bùi xuân Đáng).
– Oncidium Orchids (UCC Biology Department).
– Oncidium (Group) (Missouri Botanical Garden).